(Tiết kiệm 1.600.000 đ) - 36 %
Thông tin sản phẩm
| Thông số | Chi tiết |
|---|---|
| Loại | Úp bình |
| Công nghệ làm lạnh | Block |
| THÔNG SỐ KỸ THUẬT | |
| Điện áp | 220V/50Hz |
| Công suất làm nóng | 500W |
| Công suất làm lạnh | 85W |
| Nhiệt độ nước Nóng (Nhiệt độ nước thực tế sẽ phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường và thể tích nước lấy ra) | 85-95°C |
| Nhiệt độ nước lạnh | 5-10°C |
| Dung tích bình nóng | 1.1L |
| Dung tích bình lạnh | 3.2L |
| TRỌNG LƯỢNG & KÍCH THƯỚC | |
| Kích thước | (285*336*1004) mm |
| Khối lượng | 13.5Kg |
| Màu sắc | Trắng |
| TÍNH NĂNG KHÁC | |
| Khóa an toàn vòi nóng | Có |
| Khoang chứa đồ | Có |
| Bảo hành | 24 Tháng với Block, linh kiện điện |
Thân máy rộng 285 mm và cao 1004 mm, nhỏ nhất trong các cây nước Karofi đang bán ở đây. Phòng trọ, ký túc xá hay góc bếp chung cư mini đặt vừa.
Dù gọn, máy vẫn có khoang chứa đồ phía dưới và khóa an toàn ở vòi nóng. Bình lạnh 3,2 lít, nhiều hơn bản HC16 khoảng nửa lít.
Kiểu úp bình có một cái tiện ít người để ý: nhìn bình là biết còn bao nhiêu nước, không cần mở tủ kiểm tra, nên ít khi bị hết nước bất ngờ giữa buổi.
Thân máy rộng 285 mm, sâu 336 mm, cao 1004 mm. Với phòng trọ hoặc căn hộ nhỏ, chỗ hay được chọn là góc gần bàn ăn hoặc cạnh tủ lạnh. Cả hai đều dùng được, nhưng cần tính trước ba thứ.
Thứ nhất là ổ điện. Máy cắm liên tục nên phải là ổ cố định trên tường, không phải ổ cắm kéo dài vắt qua lối đi. Thứ hai là mặt sàn, phải phẳng và chịu được khoảng 33 kg khi máy đã có bình nước đầy phía trên. Sàn gỗ công nghiệp cũ hoặc sàn kê gạch men bị kênh thì nên chọn chỗ khác.
Thứ ba là khoảng trống phía trên. Úp bình đòi hỏi nhấc bình qua đỉnh máy ở độ cao một mét, nên không kê dưới kệ treo hay tủ bếp trên, kẻo không đủ chỗ xoay bình.
Mùa lạnh ở Hà Nội, nhu cầu đổi hẳn: nước nóng dùng nhiều lên, nước lạnh gần như không ai đụng tới. Nhiều nhà vẫn để cả hai chức năng chạy suốt, tức là máy vẫn đều đặn làm lạnh 3,2 lít nước mà cả tháng không rót cốc nào.
Nếu máy có công tắc riêng cho chế độ lạnh ở mặt sau, mùa đông tắt đi là hợp lý. Phần nước lạnh sẽ dần về nhiệt độ phòng và vẫn uống được bình thường qua vòi đó.
Ngược lại, không nên tắt chức năng nóng để tiết kiệm rồi bật lên khi cần, vì mỗi lần bật lại máy phải đun từ đầu, mất thời gian chờ mà chưa chắc tiết kiệm hơn.
Phần người dùng tự làm được là bên ngoài. Vỏ máy màu trắng nên vết bẩn và vết nước khô hiện rõ, lau bằng khăn ẩm là đủ, tránh dung dịch tẩy mạnh vì dễ làm ố nhựa.
Hai chỗ cần kỹ hơn: khay hứng nước dưới vòi và mặt nắp nơi úp bình. Khay hứng nên đổ và rửa hằng tuần. Mặt nắp cần lau khô sau mỗi lần thay bình, vì nước đọng quanh vành dễ sinh cặn.
Phần bên trong bình chứa thì không tự tháo ra được. Việc súc rửa định kỳ nên để kỹ thuật viên làm, thường khoảng một lần mỗi năm với máy dùng thường xuyên.
Kiểu úp bình hay bị chê là mất thẩm mỹ vì phơi cả chiếc bình to trên đỉnh máy. Nhưng trong sử dụng hằng ngày, nhìn thấy mực nước lại là điểm cộng không nhỏ.
Bạn biết chính xác khi nào cần gọi bình mới, không bị cảnh đang pha mì thì hết nước. Bọt khí nổi lên mỗi lần rót cũng là tín hiệu máy đang hút bình thường. Với nhà có người lớn tuổi, nhìn là hiểu vẫn dễ hơn nghe tiếng bơm để đoán.